Hiển thị các bài đăng có nhãn BÀI MỚI. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BÀI MỚI. Hiển thị tất cả bài đăng

Xin xem tinlanhanphuc.org

LỊCH SỬ HỘI THÁNH (3)

 CÁC HỘI THÁNH ĐẦU TIÊN



Theo lịch sử La Mã thì Phết tu được bổ nhiệm làm Tổng đốc tại Sê sa rê vào năm 60 S.C., và lấy năm 30 S.C. làm khởi điểm cho Hội thánh tại Giê ru sa lem, chúng ta có thể coi các thời điểm sau đây gần như đúng:

- Thành lập hội thánh Giê ru sa lem 30 S.C.
- Ê tiên bị ném đá 31-32 S.C.
- Sau lơ tin Chúa 31-32 S.C.
- Cọt nây tin Chúa 35-40 S.C.
- Giáo hội nghị tại Giê ru sa lem 50 S.C.
- Phao lô đến La mã 60-61 S.C.
- Caesar Nero bắt bớ hội thánh 64 S.C.
- Phao lô, Phiero tử đạo 67-68 S.C.
- Thành phố và đền thờ Giê ru sa lem bị tàn phá 70 S.C.
- Giăng bị tù đày và viết sách Khải Thị 95 S.C.




Trong Công vụ 1:1, Lu ca ghi, “sách trước nhất, tôi đã thuật về mọi điều Jesus đã khởi sự làm và dạy dỗ cho đến ngày Ngài được tiếp lên”. Phúc âm Lu ca chép những gì Chúa đã khởi làm việc và dạy dỗ khi Ngài còn sống trên đất, sách Công vụ chép những gì Ngài tiếp tục làm và dạy qua các Sứ đồ và Hội thánh của Ngài. Mác cũng xác chứng rằng: “ còn các môn đồ đi ra rao giảng khắp nơi, Chúa cùng làm việc với họ” (Mác 16:20). Các Hội thánh đầu tiên trong khoảng thời gian năm 30 đến 100 S.C. là công việc của Đấng Christ thăng thiên, là Đấng từng hứa rằng” Ta sẽ xây dựng Hội Thánh Ta trên Vầng đá nầy...”.

Sách Công vụ ghi lại việc Hội thánh được thành lập và lan tràn. Sách nầy mô tả Phúc âm từ thành Giê ru sa lem lan tràn đến Kinh thành La mã. Tân ước chỉ nói đến sự lan tràn của Phúc âm khắp xứ Palestine, phía bắc tới An ti ốt ( Syria), phía nam tới Ethiopia, phía tây tới Roma,
thông qua Tiểu Asi và Hi lạp, tức là thế giới xung quanh Địa trung hải.  Chúa dùng hai đoàn công tác chức vụ: đoàn Phi e rơ đến cùng những kẻ chịu cắt bì (Do thái); đoàn Phao lô giảng cho các dân tộc ngoại bang (Gal. 2:9). Chúa cũng đã dùng Phi e rơ mở cửa đầu tiên để rao phúc âm cho dân Do thái chịu cắt bì, và cho các dân tộc ngoại bang.

I.CÁC HỘI THÁNH Ở GIU ĐÊ, GA LI LÊ VÀ SA MA RI:

A. Giê ru salem và Giu đê:

Trước khi về trời Chúa Jesus truyền lệnh các sứ đồ, môn đồ rằng họ phải rao Phúc âm theo các địa điểm theo thứ tự như sau(kỳ thực Ngài đã giảng Phúc âm tới vùng Giu-đê và Sa-ma-ri rồi): Giê ru sa lem, Giu đê, Sa ma ri, và cùng trái đất. Từ Giê ru salem, Hội thánh đã khởi diễn và lan tràn đến khắp các nơi có người Do thái cư trú trong cả đế quốc La mã.

Hội thánh đã khai sinh đầu tiên tại phòng cao trong ngôi nhà một chị em tên là Mari tại thành Giêrusalem. Đây là nơi mà Chúa Jesus và các sứ đồ giữ lễ vượt qua lần cuối cùng, cũng là nơi Chúa lập lễ bẻ bánh cho Hội thánh. Chủ nhân ngôi nhà là chị Ma ri, mẹ của Mác, cũng gọi là Giăng. Bố của Mác là người La mã. 1Phiero 5:13 nói Mác là con thuộc linh của Phi e rơ. Chính Phierơ và các Sứ đồ, môn đồ đã họp tại nhà nầy suốt 10 ngày sau khi Chúa lên trời. Rồi khi Đức Linh Linh giáng trên 120 môn đồ tại phòng cao nầy, vào ngày Ngũ tuần, Hội thánh Giê ru sa lem khai sinh. Phòng cao nầy là một trong các điểm nhóm của Hội thánh. Sứ đồ 12 chép, phòng nhóm nầy đã cầu nguyện cho Phierơ, khi ông bị giam cầm trong ngục thất.

Người Do thái từ mọi vùng của thế giới quanh Địa Trung hải đều có mặt tại Giê ru sa lem để dự lễ Ngũ tuần vào thời điểm Hội thánh khai sinh. Họ được nghe lời Chúa bằng tiếng bản xứ mà họ đang kiều cư. Sau khi tin Chúa tại Giê ru salem, họ trở về trú quán mình, rao Phúc âm, trước cho người đồng hương, sau cho dân bản xứ đó, nên trong một thời gian ngắn, nhiều Hội thánh được thành lập ở rất nhiều nơi mà các Sứ đồ chưa đến. Sự lan tràn của Hội thánh rất nhanh. Thí dụ, xem Công vụ 28, nước Italy đã có nhiều hội thánh địa phương trước khi Phao lô đến. Sứ đồ 2:10 nói đến người Do thái ở Bạt thê, Mê đi, Ê lam mít, cả ba địa điểm nầy nằm trong nước Ba tư hiện nay. Li by và Sy ren đều nằm ở Bắc Phi Châu..v.v.. Tất cả các địa phương nầy đều có Hội thánh dấy lên trong thế kỷ thứ nhất.

Vào ngày Ngũ tuần tổng số người tin Chúa là 3000 người. Khấu trừ số tín đồ vốn là dân kiều cư các xứ khác, họ phải về xứ, số thánh đồ còn tại trong Hội thánh Giêrusalem cũng khá đông và đến khi người què ở cửa Đẹp tin Chúa, tổng số tín đồ của hội thánh Giêrusalem lên đến khoảng 5000 người. Khoảng 30 năm sau, Giacơ nói về Hội thánh Giê ru sa lem có “hàng vạn người Do thái đã tin” (Sứ 21:20).

Mười hai Sứ đồ vừa là những Sứ đồ đi ra rao Phúc âm, thành lập các Hội thánh, và cũng là các Trưởng Lão quản lý Hội thánh. Sứ đồ 9: nói việc thành lập các Hội thánh tại Ly-đa và Gióp bê, trong xứ Giu đê. Tại Ly-đa có Ê-nê được chữa bệnh và tại Gióp-bê có Ta-bi-tha được sống lại từ kẻ chết.  Phi e rơ thường ra đi thăm nhiều địa phương, nhưng lâu lâu ông phải trở về Giê ru sa lem để thi hành chức nhiệm Trưởng Lão. Phao lô không là Trưởng lão, nên ông không có nhu cầu trở về Hội thánh nhà cách cần kíp.

Gia cơ, em Chúa đã tin Ngài vào ngày Chúa phục sinh khi Ngài hiện ra cách riêng tư cho ông (1Cor 5:7). Từ năm 30 S. C., Gia cơ đã lớn lên trong Chúa và dần dần ông hầu như là Trưởng Lão đầu nhất trong Hội thánh tại Giê ru sa lem, khi người ta thường kể đến tên ông trước, thí dụ Gal. 2:9 chép“ Gia cơ, Sê pha, Giăng..,”. Ông chủ tọa cuộc giáo hội nghị tại Giê ru sa lem vào năm 50. Các thành phố Cựu ước như Bết lê hem xưa có 10 Trưởng Lão cai trị dân chúng ( Ru tơ 4), nhưng Hội thánh Giê ru salem chọn Trưỡng Lão ra sao chúng ta không biết.

Theo Rô ma 1:16, Phao lô nói Phúc âm “là quyền năng của Đức Chúa Trời để cứu mọi người tin, trước là người Do thái, sau là người Hi lạp”. Người Hi lạp đại điện cho các dân tộc ngoài dân Do thái. Sau năm 30, Phiero và các sứ đồ đã đi khắp đế quốc La Mã, rao Phúc âm và thành lập rất nhiều Hội thánh giữa người Do thái kiều cư ở Bon tu (phía nam Black Sea), Galati (Thổ nhĩ kỳ), Cáp Ba đốc (Thổ nhĩ kỳ). Phi e rơ thường dẫn vợ mình theo trong các chuyến hành trình chức vụ ( 1Cor.9:5). Ông có lập được một hội thánh tại cổ thành Babylon, xứ Yrak, và Hội thánh ở đó có gởi lời chào thăm thánh đồ Do thái trong 1 Phi. 5:13.

B.Thành Samari và xứ Samari:

Samari là cố đô của Bắc quốc Israel trong thời phân chia đất nước. Samari cũng là tên gọi của cả một miền, là phần lớn lãnh thổ của Bắc quốc. Dân Sa mari không phải là dân Do thái thuần chủng. Họ là dòng dõi tạp chủng, pha trộn giữa những người thuộc 10 chi phái Israel không bị đem đi lưu đày sang Asiri khi Samari thất thủ vào năm 721 T.C. Họ cưới gả lẫn lộn trải nhiều thế hệ với các dân tộc mà quân Asiri đem đến từ các vùng khác nhau trong đế quốc của họ; như người Babylon, Cu tha, A-va, Ha mát, Sê-phạt-a-vim ( 1 Vua 17:24). Người Do thái chính thống ở Giu đê khinh miệt và cho rằng dân Sa ma ri là dân Do thái lai tạo, nên hai bên nghịch thù nhau từ thời đó cho đến khi Hội thánh khai sinh.

Khi còn sống trên đất, Chúa Jesus đã mở ra với dân Samari tại thị trấn Si-kha, qua trung gian người phụ nữ bên giếng Gia cốp. Sứ đồ 8: kể lại sự thành lập các Hội thánh trong xứ Samari qua nhà giảng phúc âm là Phi líp. Ông giảng tại Samari và nhiều thành của người Samari cặp bờ biển Địa Trung hải từ A-xốt trên đường quốc lộ ven biển để đi đến Sê sa rê, là quê quán của ông (Sứ 8:40). Sa-ma-ri và Si kha là hai trong nhiều Hội thánh địa phương tại xứ Sa-ma-ri mà chúng ta biết tên.

C.Xứ Ga-li-lê:

Sử gia Luca không ghi lại sự khai sinh các Hội thánh tại xứ Ga-li-lê, nhưng ở Công vụ 9:31, Lu ca chép, “ấy vậy Hội Thánh (phổ thông) trong cả Giu đê, Ga-li-lê, Samari đều được bình an, xây dựng, bước đi trong sự kính sợ Chúa và trong sự an ủi của Thánh Linh mà được thêm lên”.

Xứ Ga-li-lê là lãnh địa cai trị của vua chư hầu Hê-rốt, mà dinh thự vua ở Sepphoris. Trong xứ Ga-li-lê có nhiều thị trấn, và các sứ đồ đã thành lập nhiều hội thánh và tôi tin trong số đó có ba hội thánh sau đây:

Thứ nhất là Na-xa-rét, trú quán của Chúa và gia đình Ngài. Gia cơ, em Chúa đã gặp Ngài vào buổi chiều ngày phục sinh, tôi tin Gia cơ và người nhà, cùng nhiều thánh đồ khác đã họp lại bẻ bánh trong nhà của họ tại Na-xa-rét rất sớm, sau lễ Ngũ tuần.

Thứ nhì là Cana, quê quán của sứ đồ Na-tha-na-ên ( Giăng 2: và 21:2). Chúa Jesus và các môn đồ đã dự tiệc cưới trong ngôi nhà của Na-tha-na-ên hay nhà của dòng họ ông. Họ đã thấy vinh quang Ngài trong việc Ngài hóa nước thành rượu nho hảo hạng lúc trước, thì lẽ nào Na-tha-na-ên không xây dựng được hội thánh tại Ca-na sao?

Thứ ba là Ca-bê-na-um.Thị trấn nầy là trung tâm cho giai đoạn công tác chức vụ của Chúa tại xứ Ga-li-lê. Từ Ca-bê-na-um Ngài và các môn đồ ra đi và trở về, khi họ đi khắp các thành và làng mạc xứ Ga-li-lê để rao giảng phúc âm vương quốc. Giăng 4:43-53 và Lu ca 8:3 có chép về Chu-xa là quan đại thần, là quan gia tể của vua Hê rốt, cùng vợ là Gian-nơ đang ngụ tại Ca-bê-na-um. Chúa chữa bệnh con trai hấp hối của ông bà, cả nhà tin, rồi bà Gian-nơ dùng của cải mình phục sự Chúa suốt 3 năm rưỡi chức vụ của Ngài. Tôi tin rằng hội thánh Ca-bê-na-um là một hội thánh đầy ân điển trong vùng, vì hội thánh có nhiều chị em rất mực yêu mến Chúa như Gian-nơ, Su-xan-nơ và nhiều người khác.

Ngoài ra còn có thành Bết-sai-đa là quê quán của Anh-rê, Phi-e-rơ và Phi-líp, nằm trên bờ biển Ga-li-lê cũng phải có hội thánh, do ba vị sứ đồ nầy thành lập.  Biển Ga-li-lê cũng gọi tên là Biển Ti-bê-ri-át có đến 9 thành phố nhỏ ven bờ, mà Bết-sai-đa là một, và Ti-bê-ri-át là hai. Mỗi tiểu thị trấn nầy có khoảng 15 ngàn dân. Tôi tin tất cả các thị trấn nầy đều có hội thánh hiện hữu, do kết quả chức vụ của Chúa Jesus trước khi Ngài chết.

Công vụ 15 chép khi đi dự Giáo hội nghị lần thứ nhất tại Giê-ru-sa-lem, Phao-lô, Ba-na-ba, Tít phải đi bộ từ An-ti-ốt xứ Syria ở phía bắc xuống Giê-ru-sa-lem và phải “trải qua Phê-nê-xi (Lebanon) lẫn Samari, thuật lại việc người ngoại bang trở lại cùng Chúa làm cho anh em vui mừng quá đổi” (câu 3-4). Đây là anh em trong các Hội thánh ở tại Ty-rơ (Sứ 21:3-4), Si-đôn (Sứ 27:3) thuộc xứ Phê-ni-xi và thánh đồ ở Ga-li-lê, Sa-ma-ri. Các câu kinh thánh nầy bày tỏ rằng vào năm 50 S.C., đã có nhiều Hội thánh địa phương hiện hữu tại Liban, Ga-li-lê và Sa-ma-ri rồi. Qua Phao lô, họ được sống trong sự tương giao của Thân thể Chúa.

II.CÁC HỘI THÁNH CỦA CÁC DÂN TỘC:

Rô-ma 16:4 chép lời Phao-lô làm chứng tốt về Bê-rít-sin và A-qui-la: “họ vì mạng sống tôi mà đưa cổ ra, nên chẳng những chỉ một mình tôi cảm tạ họ, nhưng cả các hội thánh ngoại bang cũng vậy”. Theo nguyên văn, chữ “dân ngoại” là “các dân tộc”. Đối với dân Do Thái , mọi dân tộc khác đều là dân ngoại bang. Rô-ma 1:16 Phao-lô nói phúc âm là “quyền năng Đức Chúa Trời để cứu mọi người tin, trước là người Do thái, sau là người Hi-lạp”. Chúng ta đã bàn qua lịch sử các hội thánh người Do-thái, bây giờ chúng ta xem qua lịch sử các Hội thánh người Hi lạp, là đại diện các dân tộc.

A.Hội Thánh Tại Sê-Sa-Rê:

Người dân ngoại bang đầu tiên được Đức Chúa Trời lựa chọn để mở đường xây dựng Hội thánh Ngài là một sĩ quan quân đội La mã, ở thành Sê-sa-rê, là Cọt-nây, khoảng năm 35-40 S.C.

Thành phố Sê-sa-rê ở trên bờ biển Địa trung hải, trong địa phận của xứ Sa-ma-ri, cách Giê-ru-sa-lem chừng 50 dặm về phía Tây bắc. Đây là tỉnh lỵ La mã tại xứ Palestine, là trú sở quan Tổng đốc La Mã, và là tổng hành dinh quân sự của xứ nầy. Người ta cho rằng Cọt-nây là viên bách nhân đội trưởng, chỉ huy đội vệ sĩ của quan Tổng đốc La mã. Như vậy, sau viên Tổng đốc, Cọt-nây là một trong những người quan trọng nhứt và có tiếng tăm trong cả vùng.
Cọt nây là người hiền đức và sùng đạo. Chắc qua nhà hội Do thái, ông biết ít nhiều về Đức Chúa Trời của người Do thái và của tín đồ Đấng Christ. Dầu Cọt-nây cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời, nhưng ông vẫn còn thuộc về dân ngoại bang.

Chính Đức Chúa Trời đã lựa chọn Cọt-nây làm người dân ngoại đầu tiên mở cửa cho phúc âm. Ngài chỉ huy tất cả công việc. Ngài bảo Cọt-nây cho người đi mời Phi-e-rơ. Đức Chúa Trời phải dùng khải tượng đặc biệt khiến Phi-e-rơ phá lệ Do thái giáo truyền thống mà quyết định đi đến Cọt-nây. Ngài tán thành việc Cột-nây vào Hội thánh bằng cách ban Đức Thánh linh cho họ. Cọt-nây là trái đầu mùa của thế giới ngoại bang.

Từ thành phố Gióp-bê, Đức Chúa Trời sai Phi-e-rơ, người Do thái đến cùng Cọt-nây, người ngoại bang. Cũng tại thành Gióp-bê (Gia-phô) nầy, 800 năm trước, Đức Chúa Trời phải dùng chút áp lực buộc Giô-na, người Do-thái, quyết định đi thành phố Ni-ni-ve của người ngoại bang để rao giảng. Chú ý, Cọt-nây không buộc phải bỏ công việc trong quân đội.

Hội thánh tại Sê-sa-rê còn có một nhà lãnh đạo quan hệ nữa là Phi-líp, vì Sê-sa-rê là quê hương của Phi-líp. Hồi ký của bác sĩ Lu-ca có đọan ghi chép, “hôm sau, chúng tôi (Phao-lô và Lu-ca) lên đường đi đến Sê-sa-rê, vào nhà Phi-líp, nhà truyền giảng phúc âm, và là một trong bảy chấp sự, rồi ở lại đó. Ông có bốn người con gái đồng trinh, có ơn nói tiên tri. Trong lúc chúng tôi ở lại đó mấy ngày, có một nhà tiên tri tên A-ga-bút từ Giu-đê xuống...Các tín hữu tại đó và chúng tôi đều xin Phao-lô đừng lên Giê-ru-sa-lem”(Sứ 21:8-14).
Thời điểm đó là năm 58-60 S.C. Anh em có nghĩ rằng vào thời điểm đó khi Phao-lô bị giam lỏng hai năm trong dinh quan Tổng đốc thì anh Cọt –nây, anh Phi-líp và hội thánh Sê-sa-rê có thăm viếng và chăm sóc cho vị sứ đồ chăng?—vì Lu-ca ghi, “đoạn quan truyền cho đội trưởng giữ Phao-lô, nhưng phải cho người được thong thả, cũng đừng cấm thân hữu nào đến cung phụng người”( Sứ 24:23). Chắc chắn Phao-lô có cơ hội tương giao lời chức vụ cho Cọt-nây và Phi-líp.

B.Hội Thánh Tại An-ti-ốt:

An-ti-ốt (xứ Syria) là đô thị thứ ba của La mã, có 500.000 dân. Nó chỉ đứng sau kinh thành La mã và Alexandria. Đây là cửa ngỏ của Địa trung hải đi vào các đại lộ Đông phương. An-ti-ốt cách Giê-ru-sa-lem 300 dặm về phía bắc. An-ti-ốt được gọi là “Nữ hoàng Đông phương”, vì được tăng phần mỹ lệ bằng sự giàu có của La mã, sự thẩm mỹ của Hi lạp và sự xa hoa của Đông phương sản xuất. Dân thành phố nầy thờ thần Át-tạt-tê, kèm theo những nghi lễ phóng túng, hư hoại và ô uế không sao tưởng tượng được.

Thánh đồ Do thái tản lạc trong thời Ê-tiên tuận đạo, đã đến An-ti-ốt rao giảng cho dân Do thái tại đó. Sau đó có mấy thánh đồ từ Chíp-rơ đến giảng cho dân Hi lạp và La mã tại An-ti-ốt. Chúa ở cùng họ, số người tin khá đông, đến nỗi Hội thánh Giê-ru-sa-lem sai Ba-na-ba đến chăm sóc họ. Hội thánh An-ti-ốt khai sinh từ đó.

Đây là một Hội thánh có nếp sống biểu lộ thực tại Thân Thể Chúa. Trong Hội thánh có nhiều sắc dân như Âu châu, Á Châu và Phi châu sống hòa hợp. Sau-lơ (Phao-lô) từ Tạt sơ di trú về đó theo lời mời của Ba-na-ba. Các trưỡng lão và người trách nhiệm đã hết lòng tìm kiếm Chúa, nên Đức Thánh Linh đã làm một công tác mới lạ và lớn là hình thành một đoàn công tác chức vụ để rao giảng phúc âm cho các dân tộc. An-ti-ốt vừa là Hội thánh địa phương và cũng là trung tâm công tác lớn cho thế giới ngoại bang. Tại An-ti-ốt, các thánh đồ được gọi một biệt danh (nick name) có ý châm biếm là “cơ đốc nhân” ( christian, chrétien) trước nhất.

Chúa đã dùng Phi-e-rơ mở cửa phúc âm cho các dân tộc vào Hội thánh, nhưng đoàn Phao lô là đoàn lãnh sứ mạng rao
Phúc âm và lập các Hội thánh giữa các dân tộc trong các nước quanh vùng Địa Trung hải.

Trong Rô-ma 16:7, Phao-lô nói đến An-trô-ni-cơ và Giu-nia, thân nhân của ông, đã là các sứ đồ trước ông. Các sứ đồ nầy cư trú trong Hội thánh La mã, và có lẽ họ đã rao Phúc âm và lập các hội thánh tại nước Italy và các nước lân cận như Tây ban nha, Pháp v.v...
Trong 2 Cor. 10:13-16, Phao-lô nói đến giới hạn của miền công tác mà Đức Chúa Trời giao cho đoàn ông và các đoàn khác. Ông muốn rao
Phúc âm cho các miền bên kia thành phố Corinhto nữa, mà Corinhto nằm trong xứ Hi lạp. Ông nói “tôi đã công bố rộng rãi phúc âm của Christ khắp nơi, từ Giê-ru-sa-lem và miền phụ cận cho đến xứ Ilyri (Macedonia- Rô. 15:19).

Phao lô là người Israel, chi phái Bên-gia –min, thành viên phe Pha-ri-si, công dân La mã của thành Tạt-sơ. Tạt sơ là trung tâm đại học lớn thứ ba trong đế quốc La mã, chỉ kém Nhã điển và Alexandria. Lúc sanh ra, ông đã có quyền công dân La mã, và ông thuộc gia đình quyền thế. Ông có căn bản văn hóa Do thái, La mã và Hi lạp. Sau khi tin Chúa, ông thoát chết tại Giê-ru-sa-lem, ông về lại và sống tại Tạt sơ. Ông đã rao giảng và lập nhiều hội thánh trong xứ Cilicia, và Tạt sơ là Hội thánh quê nhà.

Rồi vào khoảng năm 45-48 S.C., Banaba và ông cùng Mác ra đi truyền giáo lần thứ nhất, lập các Hội thánh ở các địa phương ở Á châu như Ba phô ở Chíp rơ, An-ti-ốt xứ Bi si đi, Y-cô-ni, Lít-trơ, Đẹt-bơ..v.v... Vòng hành trình thứ hai lập các hội thánh cở Âu châu như Phi líp ( tên “Philip” là kỷ niệm vua Philip, cha của Alexandre đại đế), Tê sa lô ni ca, Bê rê, Corinhto...Vòng truyền đạo thứ ba mở hội thánh E-phê-sô và rao Lời Chúa suốt ba năm tại Ê phê sô.... Vòng hành trình thứ tư ông đi đến kinh thành La mã trong địa vị tù nhân vì cớ phúc âm của Chúa.

Phao lô có nhiều đồng công và đồng ngũ trong Chúa như Lu ca, Ti mô thê, Mác, Tít. A qui la, Bê rít sin...v.v..

Theo Cô-lô-se 4:11,14, Lu ca là người ngoại bang duy nhất được dự phần trứ tác Kinh Tân- ước. Josephus nói Lu ca là dân thành Phi líp. Ông được nhìn nhận là người có văn hóa, giỏi khoa học, thông thạo tiếng Hê-bơ-rơ cổ và tiếng Hi lạp cổ điển. Còn về nghề nghiệp, ông là thấy thuốc. Ông nhập đoàn của Phao-lô lần đầu tiên tại Trô ách vào năm 50, khi ông dùng đại danh từ “chúng tôi” (Phao lô và Lu ca) để viết hồi ký (Sứ 16:10). Sau khi Phao lô ra khỏi ngục tù và rời khỏi thành Phi líp, Luca ở lại Phi líp 6 năm. Truyền thuyết Hội thánh nói Luca kết hôn cùng Li đi tại Phi líp. Lu ca tái kết hợp với Phao lô ở Sứ 20:6, và sống bên cạnh Phao lô đến khi Phao lô qua đời, có lẽ để chăm sóc sức khỏe cho vị sứ đồ.

Ti mô thê là người Do thái xuất thân từ thành Lít trơ, có bà ngoại và mẹ là người kỉnh kiền, yêu mến Kinh thánh.

Theo bi văn trong hầm mộ ở La mã, thì Bê-rít sin là một phụ nữ La mã, có tài năng phi thường và thuộc gia đình quyền quí. Vì bà kết hôn với A-qui-la, người Do thái, bà bị khai trừ khỏi giai cấp quí tộc của mình. Một phần hội thánh ở Ê-phê-sô và La mã đã nhóm trong tư gia của hai vợ chồng nầy trong hai giai đoạn khác nhau trong chức vụ của Phao lô.
Tôi chỉ trình bày đời sống vài đồng công của Phao lô và không có đủ khả năng nói đến tất cả các đồng công khác nữa.

Vào thế kỷ thứ nhất nầy, các Hội thánh sinh hoạt theo địa phương. Đơn vị là làng mạc, thị trấn hay thành phố. Mỗi hội thánh chỉ có một ban trưởng lão, và mỗi địa phương chỉ có một Hội thánh mà thôi. Người lãnh đạo hội thánh địa phương là “Trưởng lão” và cũng được gọi là “giám mục”. “Trưởng lão” là nói về địa vị--lớn hơn người khác về thuộc linh, hay tuổi tác; “giám mục” là công việc của Trưởng lão—giám sát, trông nom Hội thánh.

Chiến lược của đoàn Phao lô là chỉ lập Hội thánh tại đô thị lớn, nằm trên trục lộ giao thông. Rồi hội thánh tại đó phải rao phúc âm và lập các hội thánh trong các địa phương nhỏ hơn kế cận với mình. Thí dụ , Phao lô để 3 năm lo xây dựng Hội thánh Ê-phê-sô lớn mạnh, lo giảng lời chức vụ cho cả tỉnh A si qua một trường học tại thành phố Ê-phê-sô. Tại Ê-phê-sô, Phao lô có một đồng bộc yêu dấu là Ép-a-phơ-ra. Chính người đồng công nầy đem Phúc âm đến thị trấn nhỏ kế cận là Cô-lô-se (Col. 1:7; Phlm 1. Hội thánh Cô lô se được xây dựng và nhóm họp trong nhà Trưởng lão Phi lê môn. Vợ của Phi lê môn là chị Áp-phi, và con trai cũng ở trong chức vụ, tên là A-chíp.

Trên đây là vài nét đơn sơ về lịch sử các Hội thánh đầu tiên trong thời kỳ từ năm 30 đến năm 100 S.C./.

(Nguồn: The records and the letters of the apostolic age by Ernest D. Burton...)


DANIEL 6:10-18 (4)


Tôi đã thờ phượng Chúa bao nhiều lần trong Ngày?

LỜI CẦU NGUYỆN:   “ Đức Chúa Trời ôi! Tôi hằng tin cậy nơi tình yêu thương của Đức Chúa Trời Đến đời đời. Tôi ca ngợi Ngài đời đời vì những điều Ngài đã làm.Tôi sẽ trông cậy nơi danh Ngài trước mặt những người trung tín của Ngài Vì danh ấy là tốt lành. là Đức Chúa Trời cứu rỗi tôi, Tôi cầu nguyện trong danh Chúa Jesus Christ Amen!”

LỜI THÁNH KINH . DANIEN 6:10-18. 

 (xin mở Kinh thánh ra đọc thật chậm, và nhiều lần)

SỰ THỜ PHƯỢNG:   

Một tiếng hô lớn của một đám rất đông trên trời: Ha-lê-lu-gia!  Sự cứu rỗi, vinh quang và quyền năng đều thuộc về Đức Chúa Trời chúng ta…Ngài báo trả về máu các đầy tớ Ngài mà nó đã đổ ra! Ha-lê-lu-gia! Quỳ xuống mà thờ lạy Đức Chúa Trời đang ngự trên ngai, tung hô: “A-men, Ha-lê-lu-gia! Hãy ca ngợi Đức Chúa Trời chúng ta. Tất cả các người là đầy tớ của Ngài, Là những kẻ kính sợ Ngài, Cả lớn và nhỏ! Lúc ấy như tiếng sấm vang động dữ dội rằng: Ha-lê-lu-gia! Vì Chúa là Đức Chúa Trời Toàn Năng của chúng ta cai trị! Chúng ta hãy hân hoan mừng rỡ Và tôn vinh Ngài! (Khải 19:1-7)

1/- Tin Cậy ĐỨC CHÚA TRỜI.   

Sau khi Đa-ni-ên nghe tin vua đã ký sắc chỉ, ông về nhà, lên một phòng trên cao, nơi có cửa sổ mở hướng về thành Giê-ru-sa-lem, quỳ gối cầu nguyện và ca ngợi Đức Chúa Trời của ông, như ông vẫn làm trước nay, mỗi ngày ba lần. (Daniel 6:10).
  
a/- Nơi chốn,  vị trí.   

- Sau khi Đa-ni-ên nghe tin vua đã ký sắc chỉ, ông về   nhà 

- Lên một phòng trên cao.

- Nơi có cửa sổ mở hướng về thành Giê-ru-sa-lem. 

b/- Trung tín.

- Quỳ gối cầu nguyện.

- Ca ngợi Đức Chúa Trời của ông.

- Như ông vẫn làm trước nay, mỗi ngày ba lần.

2/- Những Ngăn Trở.    

“Hãy tỉnh thức và cầu nguyện để các con khỏi sa vào chước cám dỗ; tâm linh thì mong muốn nhưng thể xác lại yếu đuối.” (Mat 26:41Mac 14:38).
  
a/- Luôn có thế lực chống đối.  

Bấy giờ những người ấy hẹn nhau kéo đến và bắt gặp Đa-ni-ên đang khẩn thiết cầu nguyện Đức Chúa Trời mình. (Daniel 6:10). 

b/- Luật lệ.   

Họ liền vào triều nhắc lại lệnh cấm của vua: “Muôn tâu bệ hạ, có phải bệ hạ đã ký sắc chỉ cấm bất cứ ai cầu xin một thần nào hoặc người nào ngoài bệ hạ, trong vòng ba mươi ngày, và người nào vi phạm sẽ bị quăng xuống hầm sư tử không?”Vua đáp: “Đúng, sắc chỉ tuyệt đối không thể hủy bỏ, y như các luật khác của dân Mê-đi và Ba-tư.” (Daniel 6:12). 

c/- Cáo buộc

Bấy giờ họ thưa với vua: “ Muôn tâu bệ hạ, trong nhóm dân lưu đày Giu-đa, có Đa-ni-ên là người chẳng hề tôn trọng bệ hạ hoặc sắc chỉ cấm bệ hạ đã ký, nhưng cứ tiếp tục cầu nguyện với thần mình mỗi ngày ba lần.”( Daniel 6:13).

3/- Đấng Có Thể Giải Cứu.  

“Nghe những lời ấy, vua rất đau lòng. Vua quyết tâm cứu Đa-ni-ên nhưng cố gắng mãi đến khi mặt trời lặn vẫn chưa tìm được cách nào. Bấy giờ những người kia lại họp nhau đến chầu vua: “Muôn tâu bệ hạ, bệ hạ biết rằng chiếu theo luật của dân Mê-đi và Ba-tư, mọi lệnh cấm và sắc chỉ nhà vua ban hành đều bất di bất dịch. Vì thế, vua đành hạ lệnh triệu Đa-ni-ên đến để quăng xuống hầm sư tử. Vua bảo Đa-ni-ên: “Vị thần mà ngươi bền lòng phụng sự, chính vị ấy sẽ giải cứu ngươi.”( Daniel 6:14-16).
  
a/- Thẩm quyền của loài người vẫn bất lực

Vua quyết tâm cứu Đa-ni-ên nhưng cố gắng mãi đến khi mặt trời lặn vẫn chưa tìm được cách nào. 

b/- Đấng Giải Cứu. 

“Vị thần mà ngươi bền lòng phụng sự, chính vị ấy sẽ giải cứu ngươi


KẾT LUẬN:   

Gióp. Ông là người trọn lành và ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời và xa lánh điều ác.  Vì thế, ông là người giàu nhất ở phương Đông. Các con trai ông thường thay phiên nhau đãi tiệc tại nhà riêng.  Sau các ngày tiệc tùng, Gióp thường sai gọi các con về làm lễ tẩy uế. Ông thức dậy sớm, dâng tế lễ thiêu cho mỗi người con, vì ông thầm nghĩ: “Biết đâu con cái tôi phạm tội, biết đâu chúng nguyền rủa Đức Chúa Trời trong lòng!” Gióp vẫn thường làm như vậy.(Giop 1:1-5).

Sự thờ phượng ĐỨC CHÚA TRỜI của tôi có là việc mà tôi vẫn thường xuyên làm không?

HT.Ân Phúc.

NHỮNG ĐIỀU UẨN KHÚC KHÔNG NÓI NÊN LỜI.(4)



 Khập Khiễng Hoài Sao?
  
Muối của đất.



Sự Sáng của thế gian

Chúa Jesus Christ công bố:

Các ngươi là muối của đất; song nếu mất mặn đi, thì sẽ lấy giống chi mà làm cho mặn lại? Muối ấy không dùng chi được nữa, chỉ phải quăng ra ngoài và bị người ta đạp dưới chân.

Các ngươi là sự sáng của thế gian; một cái thành ở trên núi thì không khi nào bị khuất được: Cũng không ai thắp đèn mà để dưới cái thùng, song người ta để trên chân đèn, thì nó soi sáng mọi người ở trong nhà.  Sự sáng các người hãy soi trước mặt người ta như vậy, đặng họ thấy những việc lành của các ngươi, và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời.”
                                                                 (Ma-thi-ơ 5:13-16)

Qua những lời này của Chúa Jesus cho mọi người trong chúng ta về chính mình một định nghĩa.

I. Định Nghĩa Cơ-đốc nhân là:

-Muối mặn của đất.
-Sự sáng của thế gian.

Muối và sự sáng là một sự được kết hiệp hài hòa trọn vẹn của một tín hữu từ bên trong lòng phát lộ bằng việc làm lành ra bên ngoài.”

Qua lời Chúa Jesus phán, Ngài đang khẳng định với những đối tượng(người Do-thái) đang nghe Ngài: họ là muối của đất và sự sáng của thế gian. Họ đây là người Israel, dân tuyển chọn của Đức Chúa Trời.Trước kia Ngài có phán với tổ phụ của họ là Apraham rằng:”…ngươi sẽ thành một nguồn phước…”(Sángth 12:2b).  Lời hứa này của Đức Chúa Trời dành cho chính ông và những người thuộc về dòng dõi ông sẽ thành một nguồn phước(muối và sự sáng cho mọi người).  Ngoài ra, từ ông sẽ có một Đấng đem lại phước hạnh cho mọi người là sự cứu rỗi khi có đức tin giống như ông.
 

Từ vựng

Thời đại giao-ước cũ.
Thời kỳ giao-ước mới.
Thời điểm chung cuộc.


”Các ngươi”:




Dân Israel.



Hội thánh Chúa.


Các thành viên trong Nhà  Chúa.

Bên trong con người




Muối mặn của đất


Muối mặn của đất



Bên ngoài con người


Sự sáng thế gian

Sự sáng thế gian


Một tín hữu trong đức tin bày tỏ




Việc lành



Việc lành



Việc lành

Một tín hữu sống có mục đích.




Để người ta ngợi khen Cha trên trời.



Để người ta ngợi khen Cha trên trời.



Sẽ được ban thưởng.(Khải 22:12)



-Muối:

Hết thảy chúng ta là muối. Chúng ta không thể mất mặn được, không có một lý do nào để có thể mất mặn được vì là muối.

-Sự Sáng:

Đối với thế gian, sự sáng của chúng ta không để bị che khuất. Đối với gia đình chúng ta là ánh đèn soi sáng cho mọi người trong nhà. Sự sáng là những việc lành được phát lộ ra cho người ta để họ ngợi khen Cha ở trên trời(không phải ngợi khen con người ở dưới đất).

Lời Chúa phán:

Hãy dấy lên, và sáng lòe ra! Vì sự sáng ngươi đã đến, và vinh quang Đức Giê-hô-va đã mọc lên trên ngươi. 2 Nầy, sự tối tăm vây phủ đất, sự u ám bao bọc các dân; song Đức Giê-hô-va dấy lên trên ngươi, vinh quang Ngài tỏ rạng trên ngươi. 3 Các dân tộc sẽ đến nơi sự sáng ngươi, các vua sẽ đến nơi sự chói sáng đã mọc lên trên ngươi.”(Esai 60:1-3).

Muối là phần bên trong con người, sự sáng là phần biểu lộ ra bên ngoài. Một tín hữu chỉ có tấm lòng thôi thì chưa đủ nhưng phải thể hiện ra bên ngoài.  Nhưng nếu thể hiện mà không bởi tấm lòng thì trở nên giả hình.

Chúa Jesus phán(liệt kê về sự giả hình):

1. Nói mà không làm: “3 Vậy, hãy làm và giữ theo mọi điều họ đã bảo các ngươi; nhưng đừng bắt chước việc làm của họ, vì họ nói mà không làm. 4 Bọn ấy buộc những gánh nặng khó chịu, để trên vai người ta, còn mình thì không muốn động ngón tay vào.

2.Địa vị-chức vụ: 5 Họ làm việc gì cũng cố để cho người ta thấy, mang cái thẻ bài da cho rộng, xủ cái tua áo cho dài; 6 ưa ngồi đầu trong đám tiệc, thích ngôi cao nhứt trong nhà hội; 7 muốn người ta chào mình giữa chợ, và ưng người ta gọi mình bằng thầy!

3.Ngăn trở việc rao giảng Phúc-âm: 13 Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! Vì các ngươi đóng nước thiên đàng trước mặt người ta; các ngươi không vào đó bao giờ, mà có ai muốn vào, thì lại ngăn trở. Có mấy bản cũ thêm một câu 14 rằng: Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! Vì các ngươi làm bộ đọc lời cầu nguyện cho dài, mà nuốt nhà đàn bà góa; vì cớ đó, các ngươi sẽ bị đoán phạt nặng hơn. 15 Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! Vì các ngươi đi khắp dưới nước trên bộ để khuyên một người vào đạo mình; và khi đã khuyên được rồi, thì các ngươi làm cho họ trở nên người địa ngục gấp hai các ngươi…

4.Lọc con ruồi để nuốt con lạc đà: 23 Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! Vì các ngươi nộp một phần mười bạc hà, hồi hương, và rau cần, mà bỏ điều hệ trọng hơn hết trong luật pháp, là sự công bình, thương xót và trung tín; đó là những điều các ngươi phải làm, mà cũng không nên bỏ sót những điều kia. 24 Hỡi kẻ mù dẫn đường, các ngươi lọc con ruồi nhỏ mà nuốt con lạc đà!

5.Mồ mả tô trắng: 25 Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! Vì các ngươi rửa bề ngoài chén và mâm, nhưng ở trong thì đầy dẫy sự ăn cướp cùng sự quá độ. 26 Hỡi người Pha-ri-si mù kia, trước hết phải lau bề trong chén và mâm, hầu cho bề ngoài cũng được sạch sẽ.27 Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! Vì các ngươi giống như mồ mả tô trắng bề ngoài cho đẹp, mà bề trong thì đầy xương người chết và mọi thứ dơ dáy. 28 Các ngươi cũng vậy, bề ngoài ra dáng công bình, nhưng ở trong thì chan chứa sự giả hình và tội lỗi.

6.Bách hại: 29 Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! Vì các ngươi xây đắp mồ mả của đấng tiên tri, trau giồi mồ mả của người công bình, ”(Ma-thi-ơ 23:3-29)

Câu Hỏi Được Đặc ra:

-Muối và ánh sáng là hình bóng và nghĩa đen ở đây Chúa Jesus nói về điều gì?

-Tại sao muối và ánh sáng đi chung với nhau trong đời sống của Cơ-đốc nhân?

-Muối đương nhiên là phải mặn, nhưng tại sao lại không còn mặn?

-Có một ẩn ý là khi mất mặn thì trở nên phải quăng ra đường và người ta chà đạp dưới chân. Vậy, là thứ gì mà người ta chà đạp?

-Việc lành là việc gì?

Sau đó Chúa phán:

” …nếu sự công bình của các ngươi chẳng trổi hơn sự công bình của các thầy thông giáo và người dòng Pha-ri-si, thì các ngươi chắc không vào nước thiên đàng.” (Ma-thi-ơ 5:20)

Điều cần chú ý (theo bản văn):

1.Muối của đất.

2.Sự sáng ở trên cao để soi ánh sáng ra.

3.Ngợi khen Cha trên trời.

Động cơ của Sự sáng là Muối mặn, nếu động cơ không hoạt động được có nghĩa là đã mất đi chất mặn của nó và động cơ đó chỉ còn là thứ phế thải, còn tệ hại hơn khi nó bị người ta chà đạp dưới chân.

-Ngày nay, muối đang có tầm ảnh hưởng rất xa đến nỗi những người không thuộc về Cơ-đốc giáo vẫn có thể làm được.  Tín hữu nên biết ngoài xã hội có rất nhiều con người đang sống bất hạnh,”sự tối tăm vây phủ đất, sự u ám bao bọc các dân” họ đang sống trong hoàn cảnh như cá hoặc thịt bị ” ương, thối “ hoặc tương tự, tạm gọi họ là những con người sống bên lề xã hội” bán vé số, ăn xin”-“mù, tàn tật, nghèo khó,góa bụa, mồ côi và nhiều hoàn cảnh khó nói hết…”  Nếu Cơ-đốc nhân chỉ đến với họ chỉ một khía cạnh là sự sáng không thì chưa đủ và nếu chỉ đến với họ chỉ là muối không thì cũng không hoàn toàn là đúng như lời Chúa Jesus phán.

-Hiện nay, ngoài Hội thánh Chúa biết bao nhiêu con người đang có một đời sống biểu hiện họ là muối và phản chiếu biết bao nhiêu là việc lành.  Có thể họ đang làm việc lành vì lương tâm, vì tôn giáo và vì công ăn việc.v.v…

-Một thực trạng đáng quan tâm.  Rất nhiều Cơ-đốc nhân rất thích đứng trên bục để giảng, dạy và làm chứng những gì xảy ra trong đời sống họ mà Chúa ban cho.  Điều này không sai, nhưng chưa hoàn toàn đúng vì họ đang đi khập khiễng.  Bởi họ chỉ đang nói cho mọi người trong nhà nhưng họ chưa có một cụ thể nào là muối cả.  Điều trước tiên là muối đi trước sau đó soi sáng ra.

Một ngày kia, có một tín hữu sốt sắng đi ra làm chứng cho nhiều Hội thánh Chúa vì Chúa chữa lành cho họ rất siêu nhiên.  Nhưng họ quên rằng đây là nhu cầu của chính mình với những gì mà họ đã hứa với Chúa trước khi được chữa lành và sau khi nhận lấy sự hồi phục thì họ phải hoàn thành điều đã hứa.  Họ cũng quên rằng đây là phán lệnh của mỗi Cơ-đốc nhân phải thực thi, “nếu Chúa không chữa lành thì họ có ra đi như vậy không? Có nghĩa họ vẫn như những con người đang nghe tín hữu này làm chứng”. 

Tín hữu này chưa thể hiện muối vì chưa giải quyết nhu cầu cho người khác với những việc lành mà chỉ là lời làm chứng suông.  Bởi những người đang sống bên lề xã hội cũng không ít người đã từng nếm quyền năng siêu nhiên mà Thượng đế đã làm trên cuộc đời họ. 

Tại Hội thánh Ân phúc không ít tín hữu từ nơi khác muốn đến để làm chứng về Chúa, nhưng đa số không có hiệu quả vì Chúa đã làm nhiều điều kỳ diệu cho những người mù, tàn tật,  họ không thể phủ nhận nhưng họ vẫn chưa chấp nhận bởi đó chỉ là sự sáng đang chiếu trên họ, họ vẫn tin nhưng họ chưa hoàn toàn tin vì nhu cầu về sự sáng đối với họ, họ  đã có rồi, họ đang cần muối.Thư Gia-cơ cho biết việc bày tỏ đức tin phải có việc làm cụ thể.  Việc này không phải chỉ: giảng, dạy và làm chứng thôi nhưng đòi hỏi đức tin của người đang nói đó như thế nào xin chỉ cho tôi thấy.  Chắc chắn Chúa Jesus biết rõ đoàn dân đông theo Ngài họ không tin Ngài, nhưng Ngài vẫn thể hiện bằng việc làm lành là muối, ban cho họ bánh ăn. 

Vấn đề ở chỗ không phải là người nghe mình làm chứng đó tin hay không tin mà là” các người là muối và soi sáng ra”.  Một khi hoàn tất hai yếu tố nầy thì người ta sẽ ngợi khen Cha trên trời.  Đó là điều mà Chúa mong muốn.  Hay nói một cách khác, tín hữu hãy hành động bằng việc lành cho người ta đi, để người ta ngợi khen Cha của chúng ta.

Khi Chúa Jesus tuyên bố như vậy, Ngài đang nói với người Do-thái: Các người là dân tộc tuyển chọn của Đức Chúa Trời, các người là Muối của đất, hãy soi sáng cho dân ngoại và chắn chắn Ngài cũng đang phán với các tín hữu ngày hôm nay.  Vậy việc lành là gì?  Xem lại những câu trên để chúng ta suy nghĩ việc lành bao gồm:

-Bên trong con người cưu mang

-Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy!
-  Phước cho những kẻ than khóc, vì sẽ được yên ủi!
- Phước cho những kẻ nhu mì, vì sẽ hưởng được đất!
- Phước cho những kẻ đói khát sự công bình, vì sẽ được no đủ!
- Phước cho những kẻ hay thương xót, vì sẽ được thương xót!
- Phước cho những kẻ có lòng trong sạch, vì sẽ thấy Đức Chúa Trời!

-Bên ngoài biểu lộ hành động


-Phước cho những kẻ làm cho người hòa thuận, vì sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời!
-Phước cho những kẻ chịu bắt bớ vì sự công bình, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy!
-Khi nào vì cớ Ta mà người ta mắng nhiếc, bắt bớ, và lấy mọi điều dữ nói vu cho các ngươi, thì các ngươi sẽ được phước.

Hãy vui vẻ, và nức lòng mừng rỡ, vì phần thưởng các ngươi ở trên trời sẽ lớn lắm; bởi vì người ta cũng từng bắt bớ các đấng tiên tri trước các ngươi như vậy.”  (Mat 5:3-12).

Chúng ta cũng xem những câu sau tiếp theo Ma-thi-ơ 5:17-7:1-23 sẽ rõ ràng hơn và được Chúa kết thúc Ma-thi-ơ 7:24:”Vậy, kẻ nào nghe và làm theo lời Ta phán đây, thì giống như một người khôn ngoan cất nhà mình trên vầng đá.”

Tất cả mọi hành vi của tín hữu sẽ cho mọi người biết bên trong tín hữu đang chứa điều gì. Bởi lòng đầy dẫy miệng nói ra(Lu-ca 6:45).  Trong muối có chất mặn là gì?  Trong tín hữu có điều gì?  Tinh yêu thương là vị mặn của tín hữu(muối).  Tình yêu thương bao phủ từ bên trong lòng tuôn tràn chảy như dòng suối mát ngọt ngào mà trung tâm điểm là “Kính Chúa-yêu con người.” Cũng vậy, sự sáng là tình yêu kinh mến Chúa được sáng soi ra bằng những việc làm cụ thể.  Nó là mùi hương của tình yêu Đức Chúa Trời lan tỏa, ban tặng để người ta có thể tôn vinh Đức Chúa Trời.  Chính vì vậy Chúa phán nếu tín hữu mất tình yêu thì không thể sử dụng được.” Nhưng điều ta trách ngươi, là ngươi đã bỏ lòng kính mến ban đầu.” (Khải huyền 2:4)  Tệ hại hơn tín hữu đó sẽ như cái thùng úp ngọn đèn cứu rỗi, như cái thành che khuất ánh sáng Phúc-âm.  Có nghĩa là họ không có tình yêu chân thật chỉ giả hình.

Kết Luận:

Chúa Jesus Christ khẳng định:  tín hữu là muối đang có chất mặn(tình yêu thương) và chất mặn đó phải thể hiện tình yêu thiêng đàng bằng việc làm cụ thể ra cho mọi người.